Tìm kiếm

Strongerle

Don't stop living. Don't stop striving.

[O.Henry] Lời giới thiệu – P.2

2

Khi nhìn lại sự nghiệp của O. Henry, ta cần phải biết rằng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ vàng son với các nhà văn chuyên viết truyện hư cấu. Nền giáo dục cao cấp ở Tây bán cầu đã tạo ra một thế hệ khán giả văn học khổng lồ và mới mẻ yêu mến truyện dân gian và tiểu thuyết. Đồng thời công nghệ tiên tiến đã làm giảm chi phí giấy và chi phí in ấn. Vô số tạp chí và báo giấy sinh sôi nảy nở, thường xuyên nhận được tài trợ từ các nhà quảng cáo và thường thì họ dành chỗ trống còn lại cho những mẩu truyện ngắn: thế là sản sinh ra và phổ biến hóa các tay viết truyện ngắn như Harte, Maupassant, Wells, Conrad, Kipling, Crane và dĩ nhiên, cả O.Henry nữa.

O.Henry trở nên tinh thông việc viết truyện chủ yếu về đời sống đương thời, thường là đời sống Mỹ (thường lấy bối cảnh đô thị, đôi khi là miền thôn dã) cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Chúng thể hiện năng lực quan sát hiện thực qua lăng kính lãng mạn – cái lãng mạn đầy tính kịch và thật sự ấn tượng, về những thứ quen thuộc thường tình. Nếu nhiều truyện có nét hao hao với những trò đùa khoa trương thì số khác lại như một tiểu thuyết đã cô đọng lại. Những nơi ông từng qua được gợi lên chính xác và sống động: New York, New Orleans, Honduras và Texas (một truyện trong quyển tuyển tập này lấy bối cảnh miền nông thôn Pháp và Paris thời thượng thế kỷ XVIII). Ông không chỉ đã nếm trải những ký ức đa sắc màu và rất kỳ quặc mà còn cả những biến cố đắng cay xen lẫn khôi hài trong cuộc đời nghèo túng, phi pháp, tham vọng và lập dị của mình. Thường thường truyện của ông rất nặng tình cảm: đáng chú ý là một trong những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của ông, “The Gifts of the Magi” (Món quà của nhà thông thái). Đây là câu chuyện về một tình yêu tự nguyện hy sinh được thể hiện bởi một cặp đôi nghèo khổ: với sự éo le đắng cay, món quà đôi bên trao nhau là biểu tượng của sự hết lòng nhưng vô ích. (Để cho công bằng, chúng ta nên hồi tưởng một Giáng sinh truyền thống khi việc đặt nặng tình cảm vào nó vẫn còn là điều thích hợp). Một truyện nổi tiếng khác của ông mà hiện giờ dường như có vẻ quá tình cảm là “Chiếc lá cuối cùng” (The Last Leaf). Trong những truyện khác, cách tiếp cận của ông khá mạnh bạo và châm biêm chanh chua, như ở truyện “Tay cảnh sát và bài Thánh ca” chẳng hạn.

Nhìn chung, Porter có cái nhìn bao dung với những mảnh đời cơ cực và tuyệt vọng, những kẻ lừa đảo và đểu giả. Ông trở thành một thi sĩ chuyên xoa dịu tâm hồn và tôn lên vẻ đẹp của quần chúng nhân dân Mỹ. Ông gắn bó cây bút của mình với thế giới xác xơ nơi có những khu nhà cho thuê đông đúc, những kẻ say xỉn nằm dài trên ghế công viên hay nhân viên đánh máy chữ ba cọc ba đồng. Ở nước ngoài, danh tiếng của ông ở Liên Xô bắt nguồn một phần từ những ích lợi khi xem ông như một đồng minh trợ giúp tuyên truyền cho liên minh chống tư bản chủ nghĩa vì ông đã miêu tả đời sống nhân dân Mỹ, những mảnh đời sống lần hồi từng ngày, sự tương phản giữa sự giàu có của số ít người với đám đông thiếu thốn và cơ cực. Tuy thế ông hầu như không giữ cái nhìn bảo thủ về sự phân chia giai cấp.

Ở New York của ông, một người đàn ông giàu có có thể thoải mái hòa nhập với người nghèo. Ở trong những truyện kể nơi hè phố, một triệu phú cải trang có thể tán tỉnh một nhân viên cửa tiệm. Nếu Henry vẫn hay quan sát người phụ nữ nghèo khổ bằng sự cảm thông thì cái nhìn ấy đôi khi vẫn lẫn một chút thoáng qua sự căm ghét đàn bà, dù đó chỉ là một nhân vật phiếm chỉ mơ hồ, ví dụ như khi Jeff Peters phàn nàn rằng đàn bà “làm tình với người khác như một công việc nặng nhọc hoặc như họ phải làm thêm giờ…”. Chắc chắn rằng, O.Henry có chút ít ủng hộ với “Người phụ nữ mới” (New Woman), những phụ nữ trẻ được giải phóng vào thời đại ông sống. Mặt khác, truyện “Kỷ vật” (The Memento) lại nói lên sự căm phẫn của những diễn viên nữ hay vũ nữ thoát y đang trong cuộc tranh đấu:

“Nhưng cái tôi ghét nhất là đàn ông – những gã đàn ông ngắm nhìn một cách dâm dật và nói chuyện tào lao với bạn qua những chiếc bàn, cố gắng mua bạn bằng Wurzburger* hay Extra Dry* rồi ước tính giá cả của bạn… Ôi, tôi ghét chúng biết bao!”

*Wurzburger: tên một hãng bia Đức lâu đời, là hãng bia Đức đầu tiên có mặt tại thị trường Hoa Kỳ.

*Extra Dry: một loại đồ uống (bia/rượu) có vị hoàn toàn ngược với ngọt (Ok, it’s confused mình sẽ tra cứu rồi chú thích rõ sau)

“Một truyện không hồi kết” (An Unfinished Story) cũng vậy, nó là lời phản kháng đau đớn thay cho những người bị trả lương thấp hơn chỉ vì họ là phụ nữ. Theodore Roosevelt, người đấu tranh để cải thiện mức lương cho phụ nữ đã nói: “Chính O.Henry là người đã ra lệnh cho tôi xuất phát trong cuộc chiến vì những cô gái văn phòng”.

[O.Henry] Lời giới thiệu – Phần 1

Lời giới thiệu

“Bạn phải trở thành một gã hề trước khi có thể trở thành một nghệ sĩ.”

(Gentleman Pettit)

“Vẫn thế, có vài thứ không thể bị phá hủy đầy lôi cuốn trong tín ngưỡng của những gã lãng mạn được cả thế giới nâng niu và gìn giữ mãi. Và nó lý giải vì sao O.Henry vẫn được đông đảo độc giả khắp thế giới đón nhận mặc cho sự khinh miệt của giới phê bình.”

(Eugene Current-Garcia)

1

O.Henry là bút danh của William Sidney (về sau là Sydney) Porter. Cuộc đời ông đã bắt đầu với sự bình lặng và tề chỉnh để rồi về sau nó hóa thành tấn bi kịch đầy mỉa mai như trong những truyện kể của chính ông. Đó là câu chuyện về sự lang bạt, không gốc rễ, bị ghét bỏ, từ tăm tối cho đến thành công rực rỡ, tiếng tăm lẫy lừng, sự trọng vọng sau khi mất và cả sự thờ ơ sau này. Trong phần  I  của Lời giới thiệu này, tôi sẽ tóm tắt cuộc đời ấy và trong các phần tiếp sau sẽ thảo luận các khía cạnh đa dạng trong toàn bộ các tác phẩm của ông trong đó có những góc khuất gây kinh ngạc.

Ngày 11 tháng 9 năm 1862, William Sidney Porter chào đời tại Greensboro, bang Ohio, là người con trai thứ hai của bác sĩ Algernon Sidney Porter và vợ, bà Mary Jane. Năm 1865, mẹ William qua đời vì lao phổi. Ông cùng cha mình chuyển về sống chung nhà với bà nội. Người cha bắt đầu trở nên lập dị và ẩn dật. William đi học ở trường của người cô, bà Evelina Maria Porter và về sau được phép học ở Trường trung học Phố Lindsey trong khi người cô (“bà Lina”) là người đã dạy dỗ, khuyến khích tài năng viết truyện và vẽ tranh của ông. Kiến thức sách vở thời thơ ấu của ông, như chính ông đã từng nói, chúng bao gồm tài liệu biên soạn của Robert Burton, cuốn “Giải phẫu nỗi sầu” (The Anatomy of melancholy) và cuốn “Ngàn lẻ một đêm”, bản dịch của Edward Lane, một sự kế tục xuất sắc các truyện kể phương Đông, một bản tóm lược ắt đã ảnh hưởng đến Porter, cuối cùng cô đọng trong những truyện ngắn của ông. Thêm vào đó, về sau ông còn chỉ ra sự giống nhau giữa chính ông và Haroun al-Raschid, kẻ thống trị Bagdad, người mà trong trong những truyện cổ tích về Ngài thường hay cải trang vi hành để thăm thú tình hình đời sống các thần dân của mình. Một hạt giống khác tạo nền tảng cho những phát triển trong tương lai của ông là cuốn “Hành lang tu viện và nền lò sưởi” (The Cloister and the Hearth) của Charles Reade. Ở một phạm vi rộng hơn, Porter đã tự giáo dục chính mình; các bài viết sau này của ông chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc của William về Kinh Thánh và về hàng loạt các tác giả lừng danh từ Homer, Shakespeare đến Tennyson, Kipling. Ông đã nghiên cứu từ điển Webster (bản không rút gọn) và cũng thu lượm được thêm nhiều từ mượn thường gặp bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha, Pháp và Đức để làm phong phú thêm vốn từ vựng văn học của mình.

Năm 1879, William Porter bắt đầu học việc nghề dược sĩ trong tiệm thuốc của người chú, lấy được giấy phép hành nghề dược sĩ vào năm 1881, khi ấy ông 19 tuổi. (Hiểu biết về dược phẩm rồi đây sẽ trở thành một gia tài của nhà văn, thể hiện qua một số truyện ngắn như “Bùa yêu của Ikey Schoenstein”, “Cuộc dạo chơi ở Aphasia” và “Hãy để tôi xem mạch”). Ông có vẻ là một thanh niên trẻ trung, dí dỏm và cực kỳ có sức lôi cuốn. Dù hay xấu hổ và tính tình dè dặt, ông vẫn hấp dẫn với những người bạn trung thành. Năm 1882, William đến Texas và đã sống ở đây trong những năm tiếp theo, làm khách ở nhiều nhà, đôi khi đi làm, đôi khi lại vô công rồi nghề. Ông phải chịu đựng chứng ho dai dẳng và hy vọng rằng khí hậu khô ráo của Texas đầy nắng sẽ giúp ông khỏe lên. Ông đã học chăn thả gia súc và làm người chăn cừu; rồi lại làm dược sĩ và sau đó là một tay thợ vẽ sơ đồ. Ở Austin (Texas), ông trở thành thành viên của một công ty kịch nghệ, của một nhóm tứ tấu và cũng đồng thời là một họa sĩ vẽ tranh biếm họa có tài.

Năm 1887, sau màn tỏ tình đầy lãng mạn, ông đã có một cuộc hôn nhân trốn chạy với Athol Estes, cô con gái dí dỏm và dũng cảm của P. G. Roach – một chủ tiệm tạp hóa phát đạt ở Austin. Quan hệ giữa cặp đôi thỉnh thoảng vẫn nảy sinh tranh cãi. Một cậu con trai đã ra đời nhưng rồi chết yểu; người con thứ hai, Margaret, thì sống được. Sức khỏe của bà Athol bắt đầu suy sụp đáng kể từ đây.

Sau khi thôi làm thợ vẽ sơ đồ cho Văn phòng đất đai Texas (1887 – 1891), William Porter kiếm được một chân giao dịch viên (chuyên chạy việc tài vụ) tại Ngân hàng Quốc gia Số I ở Austin. Có một bức ảnh chụp ông đang đứng sau chấn song bảo vệ của chiếc quầy giao dịch làm bằng gỗ hoa mỹ, đồ sộ, phục vụ một quý ngài đội mũ chóp cao. Năm 1894, Porter bắt đầu việc xuất bản tờ The Rolling Stone và đã đóng góp nhiều tin bài cho nó. Doanh số phát hành của tạp chí chỉ duy trì ở mức thấp vậy nên nó phải vật lộn về tài chính. Sau đó, vào tháng Mười Hai năm ấy, một biến cố đã xảy đến. Một cuộc điều tra chỉ ra rằng Porter đã đánh cắp hàng ngàn đô la của ngân hàng bằng cách sửa đổi các tài khoản. Ông bị mất việc. Thoạt tiên, vào đầu năm 1895, bồi thẩm đoàn tuyên bố “không đủ bằng chứng”, ông được minh oan, nhưng rồi người ta lại được yêu cầu tái thẩm. Trước khi phiên tòa này diễn ra, Porter (dùng tiền mượn được) chạy trốn đến New Orleans lánh tạm một thời gian trước khi tẩu thoát tới Honduras, một nước cộng hòa Trung Mỹ không có thỏa thuận dẫn độ với Mỹ. Ông vẫn tiếp tục công việc viết lách trước đây: trong hai năm, tờ Houston Post đã cho xuất bản các bài xã luận châm biếm và “đại cương” văn học dài lê thê của ông. Vợ ông dần trở nên quá yếu để đi biệt xứ cùng ông nên Porter quay trở lại Austin vào tháng Một năm 1897. Sáu tháng sau, bà Athol qua đời ở tuổi 29 vì lao phổi.

Tháng Hai năm 1898, Porter bị đưa ra xét xử lại và lần này người ta tuyên ông tội biển thủ, chịu án năm năm tù giam tại Nhà tù Liên bang ở Columbus, Ohio; dầu vậy, ông được thả sau chỉ ba năm. (Trong các thư gửi con gái, ông vờ rằng mình đang đi công tác.) Porter đã gặp may trong trại giam: ông làm người phát thuốc và phụ tá cho bác sĩ của trại, có được một chỗ ở tươm tất; vậy nên điều kiện sống của ông tốt xa hơn hầu hết các phạm nhân khác bị giam giữ trong một không gian chật chội và những xà lim hôi hám. Trong một bức thư, ông cũng khẳng định:

“Nếu một người bị ốm và không thể làm việc, họ sẽ ném anh ta xuống một hầm chứa rồi xối thẳng dòng nước mạnh từ vòi vào người khiến đối phương không thở được. Tiếp theo, một bác sĩ sẽ đến khám và sau đấy họ treo hai tay của người đó lên sao cho chân chấm xuống nền trong khoảng một tiếng hoặc hơn. Điều này thường khiến anh ta quay lại tiếp tục làm việc…”

Các phạm nhân khác thì bị trói và đánh liên tục cho đến khi (và sau đó) bất tỉnh. “Ở đây việc tử tự phổ biến như đi dã ngoại.” – Porter viết. Tuy vậy ông vẫn được hưởng thụ những đãi ngộ tốt, ông nói:

“Tôi vào và ra tùy thích. Vào ban đêm, tôi cuốc bộ trên đường hoặc là xuống mé sông và đi men theo con đường mòn ở đó… Tôi có một chiếc giường xếp khung sắt tốt để nằm trong văn phòng vào ban đêm. Hoàn toàn không có ai có thể yêu cầu bất kì điều gì tốt hơn trong hoàn cảnh đó.”

Thậm chí, việc ông bị bỏ tù còn là cảm hứng cho một vở kịch của Upton Sinclair, “Bill Porter: Một chuyện kịch tính của O. Henry trong tù” (1925).

Trong khi Porter còn là tù nhân số 30664, sự nghiệp làm một tay viết truyện ngắn của ông vẫn đâm chồi nảy lộc: 14 truyện được đăng trên các tạp chí quốc gia. Nếu ông có từng học hỏi từ Bret Harte, Ambrose Bierce và Rudyard Kipling thì hiện giờ ông đã sớm phát triển những kỹ xảo của riêng mình, một lối kể chuyện cô đọng và sống động. Một nhà phê bình đã tuyên bố rằng: “Porter bước vào nhà tù Ohio là một tay mơ nhưng 3 năm sau, người trở ra là O. Henry, một nhà văn chuyên nghiệp.” Từ ngày ấy, ông đã hiến dâng hoàn toàn bản thân cho những truyện viết đăng tạp chí. Năm 1904, nhận lời mời của Gilman Hall, người bạn là chủ biên của tạp chí Ainslee’s, Porter chuyển tới New York (“Bagdad-trên-tàu-điện-ngầm” theo cách ông gọi), và bắt đầu từ đây ông thường xuyên sử dụng bút danh “O. Henry”.

Ông từng có lần giải thích trong một bài phỏng vấn rằng tên “Henry” được chọn từ một bài báo trong khi “O” là viết tắt của cái tên Pháp “Olivier”. Porter không chỉ biết rằng Henry V của Shakespeare đã phải trả giá rất nhiều vì đã uổng phí thời tuổi trẻ mà còn biết “olivier” trong tiếng Pháp nghĩa là cây ô liu, những chiếc lá của loài cây thường xanh này là biểu tượng của hòa bình và ánh hào quang, cũng có khi nó được dùng kết thành vòng hoa cho người chiến thắng. Các nhà bình luận đã đưa ra nhiều giả thiết giải thích cho bút danh O. Henry. Có ý kiến cho rằng nhà văn đã kết hợp 3 chữ cái lấy từ cụm từ Ohio Penitentiary (Nhà tù Ohio). Số khác lại phỏng đoán Porter đã nghĩ ra cái tên này khi con mèo ông nuôi phản ứng lại khi ông gọi “Oh, Henry!” và chắc chắn rằng ông đã sử dụng bút danh này khi ký một album ảnh năm 1886, mười hai năm trước khi ông bị tống giam. Lại từng có giả thiết nói rằng ông đã hồi tưởng lại một ca khúc của dân cao bồi, bài “Root, Hog, or Die” (Rễ cây, heo đực thiến, hoặc là chết). Lời của nó (trong một số dị bản) có đoạn bao gồm những ca từ: “Henry, O Henry, bạn bị tuyên án về tội gì?” Cho dù lời giải thích thực sự là gì, điều dễ thấy là ông muốn mang mặt nạ cho mình. Vào năm 1898, ông đổi tên mình từ William Sidney Porter thành Sydney Porter và ông còn dùng nhiều tên giả khác: James L. Bliss, John Arbruthnott, Howard Clark, T.B. Dowd và S.H. Peters.

“Tôi giống Ngài Jim*”, ông tâm sự với một người bạn, “bởi vì chúng tôi đều mang lỗi lầm định mệnh từ cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong đời, một lỗi lầm mà chúng tôi không thể nào không che dấu.” Giống với người anh hùng của Conrad, nỗi ê chề của Porter đã tô đậm nét trầm lặng vốn đã là một phần trong tính cách của ông trước cơn khủng hoảng. “Ngài” Jim có xu hướng xem hành động nhút nhát của mình không chỉ là một lỗi lầm về mặt đạo đức mà còn là việc đã bỏ lỡ một cơ hội trở thành anh hùng; còn Porter thì cho rằng việc biển thủ của ông không chỉ là một lỗi lầm về mặt đạo đức mà phải gọi nó là “một lỗi lầm định mệnh”. Trong phần còn lại của cuộc đời ngắn ngủi của họ, cả hai người đều phải chịu hành hạ bởi ý thức về vết nhơ ấy.

*Ngài Jim: nguyên gốc tiếng Anh là Jim Lord, một nhân vật trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Joseph Conrad

Ở New York, Porter say mê sự đa dạng của mảnh đất này và đặc biệt thích thám hiểm các khu vực tồi tệ hỗn tạp, lang thang trên đường suốt cả ngày lẫn đêm. Ông thuê một chỗ ở tại số 55 Irving Place, không chỉ gần nhà hàng ngon, khách sạn tốt mà còn gần cả các hộp đêm rẻ tiền, lòe loẹt ở đường 14, bao gồm những thứ hấp dẫn như nhà thổ nổi tiếng của Billy McGlory, rạp hát văn nghệ tạp kỹ của Tony Pastor và quán rượu của Tom Sharkey. Dầu vướng bận chuyện tiền bạc (thường xuyên mắc nợ không trả nổi), Porter vẫn chi tiêu đầy hào phóng cho những cô gái đứng đường, những người bị áp bức và chịu nỗi cơ cực, bức chân dung của họ rải đầy trong các tác phẩm của ông. Sở thích cá nhân của nhà văn khá tốn kém: từ phong cách quần áo đến thú chơi bài xì phé và rượu uýt ky; đích thực một người bạn đã xác nhận rằng ông uống tới nửa ga-lôn rượu được chưng cất mỗi ngày (1 gallon = 4,54609 l). Ấy thế nhưng sự nghiệp của ông ở New York vẫn đơm hoa kết trái vô cùng rực rỡ. Chẳng mất bao lâu, “World”, một tạp chí Chủ Nhật của New York đã cho xuất bản mỗi tuần một truyện của ông và đem về cho ông 100$ mỗi truyện, khiến ông được nhiều độc giả biết đến (lên đến gần nửa triệu người). Một nhà phê bình sau này đã phát biểu rằng những truyện của O.Henry ở Texas khiến người ta nhớ tới Bret Harte, ở New Orleans là George Washington Cable và ở Trung Mỹ là Richard Harding Davis; còn ở New York thì là chính ông. Ông nắm bắt được những âm thanh từ đường phố, tiếng ồn ào của đám đông, tiếng buôn chuyện trong quán ăn và lời thú tội nơi ghế ngồi ở công viên, mang theo sức sống của một thành phố hiện đại đầy hỗn loạn, nơi khu nhà tập thể khiêm nhường nhất có thể trở thành chỗ diễn ra một màn kịch tính và một vụ tắc đường có thể quyết định đến cả một cuộc tình. Ông đã nói với một phóng viên: “Bước xuống đường, chen vào đám đông, nói chuyện với mọi người, cảm nhận sự cuồn cuộn chảy vả cả những nhịp đập mạnh mẽ của đời sống thực – đấy chính là chất kích thích đối với một nhà văn chuyên viết truyện.”

Cuốn sách đầu tiên của ông, “Cabbage and Kings” (tạm dịch: Bắp cải và Vua), một tuyển tập truyện có liên kết (với một tên sách thích hợp vay mượn của Lewis Carroll), được xuất bản năm 1904: tờ Spectator (Khán giả) ở Luân Đôn đã gọi nó là “một món quà khác thường về nghệ thuật viết.” Hai năm sau, một tuyển tập khác, “The Four Million” (Bốn triệu), đã đưa tên tuổi của ông ra toàn thế giới. Trong ba năm tiếp theo, trên bảy tập truyện đã được xuất bản. Các biên tập viên ganh đua với công việc của ông. Đến năm 1906, thu nhập trung bình của ông đạt trên 600$ một tháng. Dầu vậy, khoản nợ của ông vẫn tăng đều đều. Đôi khi ông còn nài xin được trả thêm cho các bản thảo mà ông sẽ nộp. Các truyện của ông được xuất bản đều đặn hằng tháng trên các tờ như Everybody’s, McClure’s và Munsey’s, rồi sau đó nghiệp đoàn phân phối chúng khắp cả nước. “Tôi nhận mười, mười lăm, đôi khi là hai mươi cent cho một từ”, có lần ông tự hào khoe. Dù thường bị so sánh với Guy de Maupassant, tác giả nổi tiếng về truyện dân gian châm biếm (thường hay miêu tả các nhà thổ), Porter tuyên bố đầy bực bội và khắt khe rằng: “Tôi không bao giờ viết một từ bẩn thỉu trong đời và tôi không thích bị so sánh với một tay viết bẩn thỉu.”

Năm 1907, Porter kết hôn với Sara Lindsay Coleman, người ông đã quen biết từ thời niên thiếu. Bà đã tự xuất bản những truyện “mang màu sắc địa phương” và nối lại tình bạn giữa hai người bằng cách mời ông tới chơi. Tuy vậy, cuộc hôn nhân của hai người thường không mấy hạnh phúc và có lúc họ đã sống xa nhau. “Giá như tôi nhạy cảm hơn, giá như ông ấy mềm yếu hơn”, bà Sarah hồi tưởng đầy buồn bã.

Chứng nghiện rượu của Porter đã báo trước về một hồi chuông báo tử, sự tàn lụi trong các mối quan hệ cá nhân và sức khỏe của ông nói chung. “Tôi bị sa lầy với những nghĩa vụ”, ông than phiền. Việc viết lách trở thành một cuộc chiến đầy tuyệt vọng rút cạn sinh lực và sau cùng ông đã bị đánh bại. Ngày mồng 5 tháng Sáu năm 1910, ở tuổi bốn mươi bẩy, William Sydney Porter qua đời tại Bệnh viện Đa khoa ở New York. Cái chết của ông được cho là do xơ gan tiến triển* cộng thêm ảnh hưởng bất lợi từ bệnh tiểu đường và tim to*.

(*) Xơ gan tiến triển (hay xơ gan mất bù) là giai đoạn sau trong hai giai đoạn của xơ gan (giai đoạn đầu là xơ gan tiềm tàng hay xơ gan còn bù). Xơ gan là tổn thương gan mạn tính không hồi phục, gây ra do nhiều nguyên nhân (rượu, virus, tự miễn và các nguyên nhân hiếm gặp), đặc trưng trên mô bệnh học bởi sự xơ hóa lan tỏa, đảo lộn cấu trúc tế bào gan, hình thành các nốt (nodule) có cấu trúc bất thường.

Tim to (enlarged heart/ cardiomegaly): Ở lồng ngực đường kính của tim thường phải nhỏ hơn một nửa đường kính hay bề ngang của lồng ngực. Nếu lớn hơn thì được coi là tim to. Nguyên nhân là do làm việc quá sức, hoạt động thể chất quá độ, lạm dụng thuốc, hậu quả của việc không chữa trị bệnh cao huyết áp.

Tiếng tăm và độ nổi tiếng của O.Henry vẫn tiếp tục lan rộng ra toàn cầu. Ở Mỹ, Stephen Leacock gọi ông là “một trong những bậc thầy vĩ đại của nền văn học hiện đại”. Tính đến năm 1920, gần năm triệu tập truyện của ông đã được tiêu thụ: ở Anh và châu Âu, sách của ông được đọc rộng rãi và ở nước Nga Xô Viết, dưới sự bảo trợ của chính phủ độc tài, các tác phẩm dịch từ truyện của ông cực kỳ phổ biến. Nhưng, mặc dầu được công nhận bởi đông đảo mọi người, tài năng của ông vẫn bị các nhà phê bình và giới học giả phương Tây đánh giá thấp. Năm 1943, trong bộ sách “Understanding Fiction” (Hiểu về truyện), Cleanth Brooks và Robert Penn Warren đã phân tích truyện “Căn phòng tiện nghi” của O.Henry và gợi ý rằng các độc giả nên thấy cái kết là “một thủ đoạn đáng khinh” liên kết với “sự thiếu thuyết phục nói chung trong cách mô tả đặc điểm, một đống miêu tả lộn xộn, đôi khi ủy mị (và) cái giọng nịnh đầm được tạo ra bởi tác giả”. Năm 1954, trong cuốn “The Literature of the United States” (Văn học Hợp chủng quốc), Marcus Cunliffe thừa nhận về O.Henry trong chưa đầy một câu khi mô tả văn đàn Mỹ những năm 1910:

“Từng có một thời kỳ tạm lắng trong sự phát triển của văn hư cấu ở Mỹ, có nhiều cuộc đời theo các dạng nghệ thuật khác nhau suốt những năm O.Henry viết ào ạt như suối chảy hàng loạt câu chuyện bóng bẩy và thông minh của mình về “Bagdad-trên-tàu-điện-ngầm”.”

“Thông minh” (nimble) nghe có vẻ tán dương nhưng “bóng bẩy” (slick) thì là một tính từ có ngụ ý xúc phạm tinh vi ý rằng chỉ tốt mã và nông cạn.

Ở Mỹ, O.Henry đã để lại một di sản phong phú. Ngày lại ngày, những truyện của ông đã chịu đựng sự hờ hững và bắt bẻ, hoàn toàn tương phản với những tác phẩm của Stephen Crane hay Ernest Hermingway. Ấy vậy nhưng ông vẫn được nhiều người tưởng nhớ, vài trường học đặt theo tên ông và điều châm biếm là tòa nhà văn phòng liên bang, nơi ông đã bị tuyên tội biển thủ, được gọi là “Đồi O.Henry”, thuộc sở hữu của Đại học Texas. Nhiều truyện trong di sản của ông được chuyển thành kịch truyền thanh, sân khấu, phim chiếu rạp và tác phẩm truyền hình. (“A Retrieved Reformation” là một minh chứng đặc biệt thành công). Nhiều trong số đó được chuyển thành nhạc phẩm. Năm 1952, một seri phim 5 truyện lấy tên là “O Henry’s Full House” (Ngôi nhà hạnh phúc của O Henry) công chiếu và phần một, “The Cop and the Authern” (Tay cảnh sát và bài Thánh ca) có sự tham gia của nam diễn viên xuất sắc Charles Laughton và Marilyn Monroe. Vươn ra khỏi quê nhà, mười năm sau, truyện “Makes the Whole World Kin” trở thành một phim Nga được đạo diễn bởi Leonid Gaidai. Tại Pháp và Liên Xô, tiếng tăm của O.Henry vẫn giữ ở mức khá cao trong khi nó tiếp tục bị đánh giá thấp ở Mỹ. Dầu vậy, truyện của Damon Runyon và Ring Lardner mang ơn các tác phẩm của Henry. Ông được tưởng nhớ mỗi năm bởi “Giải thưởng O. Henry” (O. Henry Award) , gây quỹ bởi Hiệp hội Nghệ thuật và Thư tín Mỹ, trao cho những truyện ngắn xuất sắc. Trên quốc tế, các chuyển thể và ấn bản của ông vẫn tiếp tục nở rộ, và, vào thế kỷ hai mươi mốt, các tuyển tập truyện ấy vẫn bán chạy. Mặc cho sự phớt lờ của các nhà phê bình kinh viện, ông vẫn nhận được sự mến mộ của vô số độc giả.

Xem Cast Away và Forrest Gump

Bữa nay mình điên cuồng lắm, làm nhiều chuyện chẳng ai hiểu nổi, kể cả xem hai phim này nữa, có điều mình lại đang thấy thích chúng.

Cast Away nói về một nhân viên của FedEx chẳng may bị rơi máy bay, trôi dạt vào đảo hoang và hành trình sống sót, trở về với quê hương của anh ta. Forrest Gump nói về người đàn ông tên Forrest Gump có khả năng chạy cực kỳ ấn tượng, có niềm tin lớn lao vào những điều mẹ dạy. Anh ta thường bắt đầu câu bằng “My mama said”, cũng may mẹ anh ta rất thương yêu anh chàng và những điều “my mama said” và sau này là “Jenny said” đã giúp anh ta rất nhiều trên đường đời thực sự khó khăn đối với một người không được thông minh cho lắm như thế. Hai bộ phim này đều được kể như kiểu hồi ký, độc thoại nội tâm khá nhiều, chẳng có nhiều nhân vật cho lắm, nhất là Cast Away vì anh ta sống ở đảo không người. Có điều với mình thì nó khá dễ xem, cũng khá thú vị và hấp dẫn nữa.

Rồi, mình chỉ định viết để nhớ là đã xem hai phim này thôi. Để kể thêm chút chuyện vậy. Hôm bữa đi làm chỗ mới, mọi người trong phòng rủ nhau đi liên hoan. Sau một hồi chè chén thì bắt đầu buôn dưa lê. Không ngờ là gần như cả cái phòng đấy đều đọc ngôn tình. Mọi người nói về Tân Di Ổ, về Yêu em từ cái nhìn đầu, về Trình Tranh, bla bla những cái gì đó nữa ấy. Hừm, trên lý thuyết thì mình hẳn sẽ phải hào hứng lắm khi kiếm được không chỉ một mà là cả đám người cùng sở thích đọc truyện. Còn trên thực tế thì mình đã im thin thít như chẳng biết ngôn tình là cái gì hết.

giphy-1469513107630

Hình tượng tan vỡ

“Bạn sẽ làm gì khi vào một ngày đẹp trời, bạn nhận ra hình ảnh thần tượng của mình chợt tan vỡ?”

Hình tượng O.Henry đã sụp đổ một mảng rất lớn trong mình khi đọc xong “Lời giới thiệu” cuốn “Tuyển tập 100 truyện ngắn của O.Henry”. Chẳng biết dịch tiếp hay là thôi. Có một đoạn Cedric Watts (người viết Lời giới thiệu) gần như đã khẳng định rằng O. Henry đạo văn, đạo ý tưởng và các truyện của ông có nhiều lối mòn lặp đi lặp lại. Ngoài ra, Cedric còn nói xấu O.Henry cũng như chê bôi tính lãng mạn trong truyện của ông và có ý phê bình ông vì những truyện của O.Henry đã bị phe chủ nghĩa xã hội lợi dụng để chống lại chủ nghĩa tư bản vì nó vạch trần những nét xấu xí trong xã hội Mỹ, vì nó đứng về phe những người khốn khổ đặc biệt là trong khi chính O.Henry cũng đang nợ ngập đầu và từng phạm pháp. Thực sự mình chưa thấy cái Lời giới thiệu của bất kỳ cuốn sách nào viết dài đến thế mà lại dành phần lớn bút mực để phê phán tác giả như vậy.

Khu vườn mùa hạ – Kazumi Yomoto

Hôm bữa trong lúc thèm truyện thì được chị giới thiệu đọc cuốn này.

Truyện này cũng mỏng thôi vậy nên thực ra thay vì ngồi đọc mấy dòng mình viết lan man, cứ cầm luôn cuốn sách lên đọc có khi chỉ mất một chốc là xong.

Hoặc là đọc bài giới thiệu của tiki đi nếu đang định đọc hay mua nó. Mình thấy họ viết rất hay, rất đúng nữa. http://tiki.vn/khu-vuon-mua-ha.html

Thật dễ để chìm vào trong thế giới cảm xúc của những đứa trẻ của “Khu vườn mùa hạ”. Bởi tất cả những nỗi tò mò, niềm phấn khích trong ấy dường như đều đã từng rất thân quen. Câu chuyện được kể sống động đến mức khiến ta cảm thấy mình cũng đang ở đó. Mọi thứ cứ diễn ra thật tự nhiên y chang như nó là một câu chuyện có thật, một mùa hè có thật và những con chữ thì hết sức trôi chảy. Đó là một mùa hè có nhiều điều mới mẻ, tụi trẻ đã có những kỷ niệm đẹp đẽ, cũng đã có những mất mát, chia ly. Không cần phải giảng giải nhiều vì sao lại thế, những đứa trẻ không dừng lại quá lâu để suy nghĩ nhưng không có nghĩa là chẳng biết gì, thảng hoặc chúng lại bắt được một khoảnh khắc đẹp đẽ nào đó của thế giới, ánh nắng buổi chiều, mùi hoa quả chín, phiến đá, góc vườn.

Điều đặc biệt trong những đứa trẻ của “Khu vườn mùa hạ” qua ngòi bút của Kazumi Yomoto đó là ta không cảm thấy chúng là những đứa trẻ gượng ép phải chuyển tải cái tinh thần của người lớn hay ngược lại là những người lớn đang cố nhạo lời của bọn trẻ con; mà vẫn có thể nhìn thấy được cái tâm hồn đáng quý biết cảm nhận, yêu thương, sẻ chia, thương nhớ, biết dũng cảm đối mặt khó khăn và kiên gan trước cuộc đời, đủ nhạy cảm để khóc và cũng đủ mạnh mẽ để tiếp tục cười.

Bằng giọng văn sáng trong lay động lòng người, lũ trẻ của Khu vườn mùa hạ đã kể câu chuyện về thế giới của những người gần đất xa trời. Người già với bề ngoài lạc lõng, cô độc và đáng sợ lại hóa ra có thể trở thành người bạn của tụi nhỏ hoạt bát, vô tư. Không chỉ có riêng cụ già nhân vật chính của truyện mà còn tất cả những người già khác nữa.

Những người già và cái vạch đích cuối đời người cứ lửng lơ trong đầu những đứa trẻ xuyên suốt cả cuốn truyện. Cái chết là gì? Đến gần cái chết thì sao? Nó có đau không? Hay là hạnh phúc? Thật bất ngờ khi tụi nhỏ có thể dạy cho chúng ta một bài học quý giá về cách đối mặt với đau thương và mất mát như cách chúng đã làm. “Trong thế giới đó có người quen của chúng ta mà. Chẳng phải điều đó càng động viên bọn mình hay sao?”

“Thật đáng ngạc nhiên khi thấy hai người họ mang nhiều kỷ niệm đến như vậy. Biết đâu già đi lại là một điều hay. Bởi vì càng nhiều tuổi, người ta lại có càng nhiều ký ức. Và rồi, một lúc nào đó khi chủ nhân chết đi, những ký ức sẽ hòa lẫn vào không khí, tan vào mưa, thấm vào đất, tiếp tục tồn tại. Chúng sẽ trôi tới nhiều nơi khác, và không chừng, cũng sẽ thử len lỏi vào tim những người khác nữa.”

(Trích Khu vườn mùa hạ – Kazumi Yumoto)
Xem thêm: http://diendanlequydon.com/viewtopic.php?f=179&t=377360

Đang cuồng vì dịch truyện

Máy tính bị hư, giờ thời gian mình mở máy khá hạn chế chứ đừng nói là online. Vậy nên gần đây không cày thêm bộ truyện nào và rồi mình trở về với cách đọc truyền thống, ngồi sờ mó từng quyển sách trong giá, ngắm nghía chán chê không biết đọc quyển nào. Trước mình cũng nhiều sách lắm nhưng sau mấy bận chuyển nhà cồng kềnh, lại thấy bản thân không còn dành mấy thời gian để đọc sách nữa nên cho, tặng, bán, thanh lý gần như sạch bách, chỉ còn hầu hết sách giáo trình, tài liệu chuyên ngành, tiếng Anh, mấy cuốn thơ và may thay vẫn còn giữ một cuốn là truyện. Chính là quyển 100 truyện ngắn chọn lọc của O.Henry mà mình đặt gạch cách đây lâu lắm rồi ấy. Vậy nên mình bắt đầu ngồi dịch.

Lúc đọc thì dễ hơn dịch nhiều. Dễ hơn thế nào thì ai từng thử dịch bất kỳ thứ gì rồi chắc hiểu ngay ý mình thôi. Đơn cử như gặm convert và edit nó ấy. 3 ngày rồi nhưng mình vẫn đang đánh vật với Lời giới thiệu. Tất nhiên cũng phải thừa nhận là trình độ của mình cũng xoàng đi. Trước đây lúc học cuốn 600 từ TOEIC ấy, thấy nó đã kiểu nghiêm túc, loằng ngoằng gì đâu rồi, giờ đọc cái này mới thấy thì ra tiếng Anh kinh tế vẫn đang còn giản đơn chán. Trước đây chỉ chăm chăm học tiếng Anh chuyên ngành, đọc thì cũng chỉ ngâm cứu tài liệu học thuật, ấy nên mới có cảm giác tiếng Anh khô cứng và chỉ rặt một lũ từ vựng lạ lùng, khô khan, lắm lối. Giờ mới ngộ ra là nó cũng có thể đẹp như thế nào, cũng mênh mông bể sở những thứ màu mè, hoa lá, idioms thì thôi rồi, nói chung là cũng thú vị và duyên dáng lắm.

Tính sơ sơ với tốc độ bò như giờ thì phải năm rưỡi, hai năm nữa mình mới dịch hết được và đó cũng mới chỉ là tính trên lý thuyết thôi. =)))))

P/s: thấy hơi tiếc vì đã tẩu tán hết sách đi để đến nỗi không còn gì để đọc giải trí nữa ~~

Bao giờ Hà Nội lại mới có hội sách/ hội sách cũ nữa nhỉ? Muốn mua thêm sách nhưng đã hết tiền.

Bà con biết quyển nào hay đáng đồng tiền bát gạo, gì cũng được, miễn nó là sách chữ, thì giới thiệu giùm với, lại lập danh mục để còn biết mình nên săn quyển nào và cần để dành bao nhiêu tiền nữa chứ.😀

Bảo vệ: Note ngắn

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

Về một người tôi không quen

Tôi theo dõi một blog cũng được kha khá thời gian rồi và thường xuyên đọc post mới của bạn ấy, bài mới nào cũng đọc. Lúc bắt đầu là review sách, truyện, sau đó thì đến cả những bài gần như là nhật ký của bạn ấy đều đọc hết. Độ này bạn ấy mới thất tình nên viết nhiều hơn. Xét về giọng văn, cách nhìn nhận và tâm sự, tôi đã luôn nghĩ bạn ấy là một cô nàng chính hiệu. Cho đến hôm nay. Có lẽ tôi vẫn đúng, nhưng phải đính chính lại một chút, bạn ấy có tâm hồn của một cô nàng chính hiệu (p/s: thể xác thì không).

Thực sự tôi không chắc lắm phát hiện mới mẻ này có ý nghĩa gì. Bởi vì tôi vẫn sẽ tiếp tục theo dõi blog của bạn ấy, chẳng có gì thay đổi cả.

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

Up ↑